14 tháng 2, 2011

Rượu Bia Và Sức Khoẻ

Rượu và các nước giải khát có cồn khi vào cơ thể sẽ được chuyển hóa ở gan thành acetaldehyd và sau đó thành acid acetic làm cho cơ thể dễ bị ngộ độc rượu do thiếu các men chuyển hóa rượu như alcohol dehydrogenase, acetaldehyd dehygrogenase. Rượu còn có thể chứa các tạp chất khác nhau như methanol là 1 tạp chất rất độc đối với hệ thần kinh.

Rượu và đặc tính của rượu

Rượu và các nước giải khát có cồn đều có chứa ethanol. Khi vào cơ thể, rượu sẽ được chuyển hóa ở gan thành acetaldehyd và sau đó thành acid acetic. Người Châu Á dễ bị ngộ độc rượu do thiếu các men chuyển hóa rượu như alcohol dehydrogenase, acetaldehyd dehygrogenase.

Rượu còn có thể chứa các tạp chất khác nhau như methanol. Methanol rất độc đối với cơ thể do methanol được chuyển hóa ở gan tạo thành những chất độc hại hơn đó là acid formic, formaldehyd (formol) có thể gây mù do tổn thương thần kinh thị giác và nhiễm độc hệ thần kinh trung ương.

Rượu bia ảnh hưởng đến sức khỏe

Ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thần kinh trung ương:

- Nồng độ thấp: gây hưng phần, có cảm giác thư giãn, phấn chấn, nói nhiều. Ở giai đoạn này, người say thường coi nhẹ những hành vi có hại cho sức khỏe như lái xe nhanh, không an toàn có thể gây ra tai nạn lưu thông, sinh hoạt tình dục không an toàn.

- Nồng độ rượu trong máu tăng lên khi uống nhiều rượu, gây kích động, có hành vi hung hăng, khó kiểm soát dẫn tới bạo lực, gây rối an ninh trật tự xã hội.

- Ở mức độ ngộ độc cao, người uống rượu sẽ rơi vào trạng thái ức chế, buồn ngủ, ngủ, giảm khả năng tiếp nhận và phân tích thông tin từ các giác quan. Nồng độ cồn trong máu quá cao có thể dẫn tới hôn mê và tử vong.

Về lâu dài, rượu làm thoái hóa não bộ, gây biểu hiện như Parkinson, rối loạn trí nhớ, rối loạn tâm thần, mất hoặc giảm khả năng lao động sáng tạo và sẽ là gánh nặng lớn cho gia đình và xã hội.

Rượu, bia còn gây tổn thương gan dẫn tới xơ gan, suy gan, ung thư gan. Gan càng dễ bị tổn thương nếu người uống rượu bia đang bị viêm gan hoặc người lành mang mầm bệnh viêm gan.

Rượu bia liên quan đến bệnh tim mạch

Uống nhiều rượu bia làm gia tăng xơ vữa động mạch, tăng mỡ máu (rối loạn chuyển hóa lipid - máu) dẫn tới các bệnh tim mạch như tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, đột quỵ.

Phụ nữ có thai mà cũng uống rượu dù ở bất kỳ giai đoạn nào cũng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển bình thường của thai nhi, gây thiểu não trí tuệ cho thai nhi.

Uống rượu nhiều còn làm gia tăng các nguy cơ khác như: đái tháo đường, ung thư thực quản, dạ dày, gan... uống rượu còn là yếu tố gây suy dinh dưỡng do chế độ ăn không cân đối, hoặc thừa dinh dưỡng do có quá nhiều năng lượng từ rượu bia, thực phẩm có nhiều mỡ ăn kèm theo.

Rượu còn làm nảy sinh và gia tăng những vấn đề xã hội khác như tệ nạn xã hội, tai nạn, bạo lực, hôn nhân không hạnh phúc, tự tử, tăng chi phí khám chữa bệnh, phục hồi chức năng...

- Uống nhiều rượu là yếu tố nguy cơ quan trọng của tăng huyết áp, có thể gây đề kháng với điều trị tăng huyết áp và là một yếu tố nguy cơ của tai biến mạch máu não, đái tháo đường, rối loạn lipid - máu, xơ gan, hội chứng dạ dày.

- Không được uống rượu bia khi điều khiển phương tiện giao thông.

- Phòng bệnh luôn tốt hơn chữa bệnh

- Nếu đã nghiện rượu thì cũng cần có biện pháp để hạn chế uống rượu.

- Người cai rượu cần có quyết tâm cao và cần sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè, cơ quan: tham gia hoạt động xã hội, thể dục thể thao... trường hợp nghiện nặng, có khi phải nhờ sự giúp đỡ của thầy thuốc, dùng thuốc để cai nghiện rượu bia.

Để thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe nhân dân của Chính phủ từ nay đến năm 2010, chúng ta cùng hưởng ứng: xây dựng làng văn hóa - sức khỏe, tăng cường luyện tập thể dục, thể thao, xây dựng nếp sống có lợi cho sức khỏe, bảo đảm an toàn cộng đồng; hạn chế lối sống và các thói quen gây tác hại đối với sức khỏe như uống rượu bia, hút thuốc lá, không chấp hành an toàn lao động và an toàn giao thông.

Nguồn: Medinet.hochiminhcity.gov.vn

13 tháng 2, 2011

Ăn Nhiều Phô Mai, Tăng Nguy Cơ Ung Thư Ruột?

Nếu ăn nhiều chất trong thịt và các sản phẩm sữa, nguy cơ ung thư sẽ cao hơn nhóm ăn các chất béo như là dầu ôliu.
Ăn nhiều phô mai hơn thông thường có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột, một nghiên cứu mới đây chỉ rõ.

Các nhà khoa học đã phát hiện ra nguy cơ này sẽ tăng cao hơn 50% ở những người ăn nhiều hơn 53g phô mai một ngày. Và việc ăn ít hơn sẽ khiến nguy cơ này hoàn toàn bị đẩy lùi. Và việc nạp vào 1 lượng dầu ôliu tương tự sẽ làm giảm 1 nửa nguy cơ gây bệnh.

Kết quả được đăng tải trên tạp chí Ung bướu EU, xuất phát từ 1 nghiên cứu xem chế độ ăn nhiều chất béo ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ ung thư ruột.

Nghiên cứu đã xem xét thói quen ăn uống của 200 bệnh nhân ung thư ruột và so sánh với 386 tình nguyện viên khỏe mạnh, không bị u ác tính ở ruột.

Các nhà nghiên cứu Hà Lan và Bỉ nhận thấy nếu ăn nhiều chất béo no, bao gồm chất béo trong thịt và các sản phẩm sữa, nguy cơ ung thư sẽ cao hơn nhóm ăn các chất béo lành mạnh như là dầu ôliu và hơn thế, chất béo lành mạnh này còn có tác dụng bảo vệ.

Nhưng các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng số người tham gia nghiên cứu là quá nhỏ để có thể kết luận rằng phô mai ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và kêu gọi có thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa vì các dấu hiệu ung thư do sữa là không rõ ràng; các thực phẩm khác như cá, gà, trứng và margarine cũng có ảnh hưởng.

Nguồn: Dân trí

Sôcôla - Siêu Thực Phẩm Tốt Hơn Rau Quả

Tin vui cho những cặp tình nhân khi ngày Valentine (14/2) sắp tới. Một nghiên cứu khoa học mới đây cho thấy, sô-cô-la giàu chất chống ôxy hóa hơn cả các loại nước ép trái cây giàu dinh dưỡng.
Nghiên cứu cho thấy, sôcôla có thể chứa lượng chất chống oxy hóa nhiều như trái cây. Tuy nhiên, việc thêm đường và sữa vào các thanh sô-cô-la bán trên thị trường sẽ làm giảm các ích lợi.

Các nhà khoa học thuộc Công ty sôcôla Hershey (Mỹ) đã tiến hành so sánh lượng chất chống ôxy hóa trong sôccla đen và cacao với nước ép từ các loại “siêu trái cây” (hoa quả rất giàu chất chống ôxy hóa) như quả việt quất, nam việt quất, quả lựu và acai.

Kết quả cho thấy, sôcôla đen và cacao có chứa chất chống oxy hóa flavanol nhiều hơn hoa quả. Trong đó, chất chống ôxy hóa flavanol có tác dụng làm trung hòa các phân tử phân hủy và cũng được cho là có khả năng chống lại bệnh tim và ung thư.

Tờ Daily Mail dẫn lời tiến sĩ Debra Miller, người đứng đầu cuộc nghiên cứu, cho biết: “Bên cạnh việc rất giàu chất béo có lợi và protein, bột cacao và sôcôla đen là những loại siêu thực phẩm có hàm lượng chất chống ôxy hóa cao hơn những loại trái cây được cho là có hàm lượng dinh dưỡng cao nhất”.

Theo một nghiên cứu khác gần đây, ăn một thỏi sôcôla đen mỗi ngày có thể giúp giảm 1/3 nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Trong khi đó, một nghiên cứu khác cũng chứng minh rằng mùi của sôcôla có thể giúp phòng ngừa bệnh cảm cúm.

Tuy nhiên, các loại sô-cô-la chế biến thường có hàm lượng chất béo và đường cao, nên các chuyên gia sức khỏe khuyên chúng ta không nên ăn quá nhiều sôcôla để tránh mắc những bệnh liên quan tới béo phì. Trong trường hợp ăn nhiều sôcôla, bạn nên giảm ăn các loại thực phẩm giàu chất béo và protein, đồng thời tăng cường các loại thực phẩm như gạo nấu, yến mạch, trái cây và rau xanh.

Theo Khoahoc

Bacsi.com

Đừng Bỏ Phí Pectin Trong Cùi Và Hạt Bưởi

Bưởi là một loại trái cây ngon, nhiều vitamin rất được ưa chuộng. Thông thường chúng ta chỉ ăn múi và vứt bỏ hạt, cùi, vỏ mà không biết rằng đã bỏ phí một nguồn Pectin, chính là chất nhầy bao quanh vỏ hạt và trong cùi bưởi, có tác dụng chữa trị khá nhiều bệnh.

Pectin là một loại chất xơ, tan trong nước, làm tăng độ nhớt. Pectin có trong nhiều loại quả, song ở cùi và vỏ hạt bưởi có tỷ lệ cao và dễ chiết xuất nhất.

Trong công nghệ dược phẩm, Pectin được dùng chế thuốc uống, thuốc tiêm (bắp, dưới da) để cầm máu trước và sau phẫu thuật răng hàm mặt, tai - mũi - họng, phụ khoa, chảy máu đường tiêu hóa, tiết niệu. Dung dịch Pectin 5% còn được sử dụng như thuốc sát trùng H2O2 (nước oxy già) trong phẫu thuật răng hàm mặt, tai mũi họng (không gây xót và cầm máu), thấm bông vào Pectin nhét vào chỗ nhổ răng để cầm máu...

Pectin, chính là chất nhầy bao quanh vỏ hạt và trong cùi bưởi, có tác dụng chữa trị khá nhiều bệnh

Tác dụng của Pectin:

- Kéo dài thời gian tiêu hóa thức ăn trong ruột, tăng hấp thu dưỡng chất trong thức ăn.

- Giảm béo (do tạo cảm giác no bụng kéo dài, giảm năng lượng ăn vào, do đó giúp giảm cân ở người béo phì).

- Giảm hấp thu lipid.

- Giảm cholesterol toàn phần trong máu.

- Khống chế tăng đường huyết ở người có bệnh tiểu đường.

- Chống táo bón.

- Cầm máu.

- Sát trùng.

Sau khi ăn bưởi, ta có thể chiết xuất nguồn Pectin quanh vỏ hạt bưởi để làm thuốc phòng và chữa các bệnh nói trên. Cách làm khá đơn giản:

- Hạt bưởi bỏ hết hạt lép (lấy khoảng 20 hạt để chế nước Pectin dùng trong 1 ngày), số còn lại đem phơi hoặc sấy thật khô (vỏ ngoài), đựng trong túi PE khô sạch (hoặc trong lọ khô sạch) để dùng dần.

- Cho hạt bưởi vào cốc, rót nước sôi (còn nóng khoảng 70-80 độ C) ngập hạt, dùng dĩa nhiều răng đánh liên tục chừng 5-6 phút rồi gạn hết nước nhầy vào một cốc riêng. Tiếp tục làm như vậy cho đến khi lấy hết nước nhầy (sờ tay vào vỏ hạt thấy hết nhầy).

Với những giống bưởi có lượng Pectin cao có thể phải đánh hạt với nước 5-6 lần mới hết nhầy. Loại ít Pectin chỉ cần làm 3 lần là được.

Sau khi đã có nước Pectin thô, chúng ta có thể dùng để chữa một số bệnh với liều lượng như sau:

- Chống táo bón, rối loạn lipid máu, bệnh tim mạch: Uống 50ml sau khi ăn bữa chính 60 phút.

- Giảm béo, ngừa tiểu đường: Uống 50ml trước khi ăn bữa chính 5-10 phút.

- Chống chảy máu (răng, máu cam, rong kinh, đa kinh): mỗi lần dùng 20ml, cách nhau 20 phút, trong một giờ liền.

Sau khi chế 3 giờ, nếu không dùng hết nên cho vào tủ lạnh (có thể bảo quản được 48 giờ). Lúc này Pectin sẽ đông lại giống như thạch trắng.

(Theo Khoa học & Đời sống)

12 tháng 2, 2011

Các Loại Thực Phẩm Có Tác Dụng Giải Độc Cho Cơ Thể

Củ đậu chứa nhiều chất xơ nên rất tốt cho tiêu hóa, giúp cho dạ dầy co bóp tốt, có lợi cho đại tiện. Bình thường thì mọi người hay ăn sống, nhưng bạn có thể chế biến thành xào, nấu hoặc là nướng. Nướng thì giữ nguyên cả vỏ, khi ăn sẽ thấy ngọt và rất mát.

Cách ăn uống không đúng, môi trường ô nhiễm, cuộc sống nhiều áp lực khiến cho cơ thể của chúng ta bị tích tụ rất nhiều độc chất. Những thực phẩm nào có thể hóa giải điều đó.

1. Củ đậu: Củ đậu chứa nhiều chất xơ nên rất tốt cho tiêu hóa, giúp cho dạ dầy co bóp tốt, có lợi cho đại tiện. Bình thường thì mọi người hay ăn sống, nhưng bạn có thể chế biến thành xào, nấu hoặc là nướng. Nướng thì giữ nguyên cả vỏ, khi ăn sẽ thấy ngọt và rất mát.

2. Đậu xanh: Đậu xanh thanh nhiệt giải độc, rất lợi tiểu và có tác dụng tuyệt vời trong việc chữa cảm nắng và giải khát. Nên ăn nhiều chè, cháo đậu xanh thì sẽ giải độc và tiêu viêm rất tốt. Tuy nhiên, khi chế biến đậu xanh bạn không nên nấu lâu quá, vì lâu quá sẽ làm cho hàm lượng acid hữu cơ cũng như là vitamin bị mất đi và giảm bớt tác dụng vốn có của nó.

3. Yến mạch: Yến mạch có tác dụng giúp dạ dầy co bóp tốt, nhuận tràng, thông đại tiện nên giải độc rất tốt. Bạn hãy nghiền yến mạch nấu chín thành nước để uống hoặc khi uống cho thêm một số nước hoa quả khác như là táo nho, vừa cung cấp được thêm nhiều thành phần dinh dưỡng, vừa lợi đại tiểu tiện.

4. Ý dĩ: Hạt ý dĩ có tác dụng thúc đẩy tuần hoàn máu, trao đổi nước trong cơ thể, phát huy tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, rất có ích trong việc cải thiện tình trạng của những người béo phì do phù nề. Uống nước ý dĩ là một trong những biện pháp giải độc khá tốt. Bạn hãy đun nhừ hạt ý dĩ rồi cho thêm ít đường vừa đủ vào nguấy đều. Loại nước này vừa giải độc lại vừa có tác dụng làm đẹp da.

5. Hạt kê: Hạt kê không có trấu cám nên sẽ không làm kích thích thành ruột. Đặc biệt là hạt kê có nhiều chất xơ ôn hòa nên rất dễ tiêu hóa, giải độc rất tốt. Bạn có thể nấu cháo kê, cháo kê có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, lợi tiểu, hàm lượng dinh dưỡng lại cao và đối với phụ nữ thì có tác dụng làm trắng da.

6. Gạo chưa giã: Loại gạo này còn giữ nguyên các thành phần dinh dưỡng, có hàm lượng chất xơ phong phú, có tác dụng hút nước, hút mỡ và tạo cho bạn có cảm giác no bụng. Khi ăn loại gạo này sẽ làm cho đường ruột thông suốt, giải độc tốt, rất có ích cho những người hay bị táo bón. Hàng sáng ăn một bát cháo gạo chưa giã hoặc là một cốc sữa đậu lành pha với gạo chưa giã là cách giải độc tốt nhất cho cơ thể.

7. Đậu đỏ: Đậu đỏ có tác dụng thúc đẩy sự co bóp của dạ dầy, giảm táo bón, lợi tiểu. Bạn hãy ngâm đậu đỏ một tối sau đó vớt ra rửa sạch cho vào nồi ninh nhừ thành chè không đường. Cứ cách một ngày ăn một bát chè không đường này thì giải độc rất tốt.

8. Cà rốt: Cà rốt có tác dụng cải thiện tình trạng táo bón của cơ thể. Cà rốt có chứa hàm lượng carontine- phong phú, có thể bài trừ được chất độc. Tuy nhiên, khi chọn lựa cần chú ý rằng cà rốt tươi mới có tác dụng giải độc tốt nhất. Bạn có thể chế biến thành nước ép cà rốt, nếu thích thì cho pha thêm mật ong, nước chanh...vừa ngon vừa giải khát lại vừa giải độc.

9. Sơn dược (một vị thuốc nam): Sơn dược có tác dụng điều chỉnh hệ thống tiêu hóa của cơ thể, làm giảm bớt sự tích tụ của lớp mỡ ở dưỡi da, tránh hiện tượng béo phì và làm tăng được chức năng của hệ thống miễn dịch. Ăn sống sơn dược sẽ có hiệu quả tốt nhất. Rửa sạch sơn dược và cà rốt, cắt thành miếng rồi cho ép thành nước uống, vừa ngon, vừa bổ cho dạ dầy, đường ruột.

10. Ngưu bàng (một vị thuốc nam): Ngưu bàng có tác dụng thúc đẩy toàn hoàn máu, trao đổi chất và điều chỉnh chức năng của hệ thống đường ruột. Ngưu bàng chứa nhiều chất xơ nên có tác dụng giữ nước trong cơ thể, làm mềm phân, rất có ích cho việc giải độc, chữa táo bón. Bạn có thể chế biến ngưu bành thành nước giải khát thay cho nước trà, uống lúc nào cũng được và cần phải uống thường xuyên, lâu dài.

11. Măng lau: Măng chứa nhiều chất dinh dưỡng như kali, asparagine có tác dụng lợi tiểu, đào thải được lượng nước thừa trong cơ thể, giải độc rất tốt. Mầm măng lau tươi chứa nhiều vitamin a, rất tốt cho cơ thể và dễ chế biến thành các món ăn ngon miệng.

12. Củ sen: Củ sen có tác dụng lợi tiểu, và đẩy các chất phế thải ra ngoài cơ thể để làm sạch máu. Củ sen được chế biến nóng lạnh tùy thích. Có thể ép thành nước và cho thêm một ít mật ong để uống, cũng có thể nấu lên thành chè rồi uống, hoặc nấu canh xương...

13. Củ cải: Củ cải có tác dụng lợi tiểu rất tốt. Củ cải chứa nhiều chất xơ nên rất tốt cho những người hay bị táo bón, đồng thời củ cải còn có tác dụng làm giảm béo. Nếu muốn củ cải giải độc có hiệu quả tốt nhất là ăn sống, có thể ép thành nước hoặc là làm sa lát.

14. Cải cúc: Cải cúc chứa nhiều vitamin a, có tác dụng bảo vệ gan và đào thải các chất độc ra ngoài cơ thể. Bạn có thể chế biến thành các món canh hợp khẩu vị để ăn hàng ngày.

15. Lá củ đậu: Chất xơ trong lá củ đậu rất nhiều, lại không có vị đắng chát, khi ăn dễ làm cho ta có cảm giác no bụng, lại thúc đẩy được sự co bóp của dạ dầy, phòng chống được căn bệnh táo bón. Rửa sạch lá củ đậu rồi cho nhúng qua nước đang đun sôi. Sau đó trộn lẫn với tỏi đã băm nhỏ và ít dầu oliu, như vậy bạn đã có một món sa lát vừa bổ vừa ngon miệng.

16. Lá củ cải: Loại rau này có chứa hàm lượng vitamin và xơ vô cùng phong phú, có tác dụng khiến bạn ăn ngon, đường ruột co bóp tốt và cải thiện được tình trạng táo bón của cơ thể. Ngoài nấu canh thì bạn có thể ép lá rau củ cải thành nước. Khi ép nên cho thêm ít mật ong, như vậy vừa giải độc mà lại rất bổ.

17. Xuyên thất: Lá cây xuyên thất có những thành phần dinh dưỡng làm giảm lượng đường trong máu và chữa trị căn bệnh táo bón mãn tính. Cho lá xuyên thất, cà chua, quả kiwi vào xay lẫn để uống hàng ngày, vừa ngon vừa bổ.

18. Giấm: Giấm ăn có tác dụng tăng cường sự trao đổi chất trong cơ thể, thải các chất acid có hại ra ngoài và giải tỏa mệt mỏi, ngoài ra cũng có tác dụng lợi tiểu, thông ruột. Sáng tối mỗi ngày sau khi ăn cơm thì nên uống một chút giấm ăn, như vậy sẽ rất có ích cho sức khỏe.

Chanh Giúp Tẩy Độc Khỏi Cơ Thể

Chanh có đặc tính kháng khuẩn và chống vi-rút.

Bạn cần bổ sung nhiều vitamin C ư? Vậy hãy uống nhiều nước chanh vì đây là nguồn vitamin C phong phú.

Theo báo The Times of India dẫn nguồn tin từ các chuyên gia dinh dưỡng Ấn Độ, uống một ly nước chanh ấm vào buổi sáng sẽ có tác dụng làm sạch hệ tiêu hóa.

Chanh chứa hợp chất giúp tăng khả năng miễn dịch, qua đó cắt giảm nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm. Do chanh có đặc tính kháng khuẩn và chống vi-rút nên bạn có thể ngừa bệnh cảm lạnh bằng cách uống một ly nước chanh mỗi ngày.

Chanh còn giúp lọc máu, từ đó loại bỏ độc tố khỏi cơ thể. Ngoài ra, dùng một lát chanh chà lên móng tay, chân có thể loại bỏ cáu bẩn. Sau khi tắm biển, gội đầu bằng chanh sẽ giúp đem lại mái tóc bóng mượt, không bị rối.

Nguồn: Thanh niên

Vai Trò Của Chất Xơ

Sợi xơ là một phần của thực phẩm chúng ta ăn vào. Hệ tiêu hóa của con người không có men để có thể tiêu hóa được sợi xơ để lấy năng lượng. Tuy không tiêu hóa được chất xơ, nhưng thực sự chúng ta rất cần một lượng chất xơ nhất định trong chế độ ăn bình thường của một người khỏe mạnh.

Tại sao chế độ ăn cần có chất xơ?

Trước tiên, điều dễ nhận thấy nhất là ăn đủ sợi xơ giúp ruột của chúng ta hoạt động điều độ hơn, tránh được táo bón bằng cách tăng khối lượng và làm mềm phân.

Sợi xơ chúng ta ăn vào tạo thành dạng gel ở ruột, gel này gắn kết axít mật. Axít mật hấp thụ cholesterol trong đó, khi axít mật tái hấp thu trở về gan đem theo cholesterol để chuyển hóa, chất xơ tan được làm cho tốc độ lưu chuyển trong ruột nhanh hơn và mang bớt đi cholesterol gắn kết trong axít mật chưa kịp hấp thu trở lại máu. Như vậy, chất xơ góp phần làm giảm cholesterol máu.

Ăn nhiều sợi xơ còn có nhiều lợi ích khác: giảm nguy cơ bị ung thư đại tràng. Ăn nhiều chất xơ tạo cảm giác đầy bụng khiến ta không cảm thấy đói quá sớm. Tại các nước người dân ăn nhiều chất xơ trong khẩu phần hằng ngày, người ta thấy ít bị các bệnh ung thư ruột, béo phì, tiểu đường. Những người tiểu đường và tăng mỡ máu, ăn nhiều sợi xơ còn giúp làm giảm được đường máu và cholesterol máu khá tốt.

Các loại sợi xơ và vai trò đối với sức khỏe

Không phải các loại chất xơ đều giống nhau và có ý nghĩa như nhau. Người ta chia sợi xơ làm 2 loại: sợi xơ không tan được trong nước và sợi xơ tan được trong nước. Cả 2 loại sợi xơ này đều có ích cho sức khỏe. Các loại thực phẩm khác nhau thì chứa các loại sợi xơ khác nhau. Ví dụ: cám yến mạch thì chứa tới 50% sợi xơ tan được trong tổng số chất xơ, còn cám lúa mỳ chỉ có 20% là chất xơ tan được.

Chất xơ không tan được trong nước:

Chất xơ không tan tạo nên chất thô trong ruột và không tiêu hóa được. Chúng giúp cho cơ thể:

- Chống táo bón: Ở trong ruột, chất xơ này trương phồng và làm mềm phân, kích thích ruột tăng co bóp và chống lại táo bón rất tốt. Ăn nhiều chất xơ loại này rất cần uống đủ nước.

- Phòng chống bệnh đường ruột: Sợi xơ không tan làm giảm áp lực trong ruột bằng cách kích thích nhu động ruột, làm cho thức ăn đi qua đường ruột nhanh hơn.

- Ngừa ung thư ruột: Tăng lượng thức ăn không tiêu hóa (tăng sợi xơ) khiến cho tốc độ thức ăn đi qua đường ruột nhanh hơn, do vậy làm giảm thời gian những chất độc tiếp xúc với ruột.

Chất xơ tan được trong nước:

Chất xơ tan được tạo nên các chất kết dính dạng gel hoặc gôm và tan được trong nước. Chúng đặc biệt có vai trò:

- Làm giảm cholesterol máu: Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thực phẩm có nhiều chất xơ tan được có thể làm giảm cholesterol máu bằng cách làm axít mật đi qua đường tiêu hóa nhanh hơn do đó lấy đi bớt cholesterol máu.

Cám yến mạch, bột yến mạch, đậu đỗ, cám ngô, cà-rốt, táo làm giảm cholesterol tốt.

- Làm giảm đường máu: Ăn nhiều sợi xơ tan được trong bữa ăn có tinh bột (ngũ cốc) giúp cho insulin hoạt động tốt hơn, làm thức ăn xuống ruột chậm hơn, chính vì vậy đường máu sau ăn không tăng nhanh. Điều đó cho phép bệnh nhân dùng ít thuốc chữa tiểu đường hơn.

Thực phẩm có nhiều chất xơ: Các loại cám như cám gạo, cám ngô, cám lúa mỳ, cám yến mạch.

Thực phẩm có lượng chất xơ trung bình: Các hạt ngũ cốc toàn phần như gạo lứt, bột ngô toàn phần, bột mỳ toàn phần.

Thực phẩm có ít chất xơ: Ngũ cốc sau khi đã tinh chế như gạo xát kỹ, bột mỳ, bột ngô...

Bún, miến, bánh cuốn... có nguồn gốc từ ngũ cốc cũng có lượng chất xơ nhất định lúc ban đầu, nhưng sau khi được tinh chế, bún, miến, bánh cuốn... không còn chất xơ trong đó, nên không tốt cho sức khỏe nếu nhìn từ góc độ ăn khoa học.

Nhu cầu chất xơ hằng ngày với con người

Các chuyên gia khuyến cáo ăn 25-30g chất xơ/ngày hay ăn 12g chất xơ cho 1.000calo ăn vào. Hầu hết chúng ta chỉ ăn khoảng 10g chất xơ/ngày. Trẻ em ăn lượng chất xơ tùy theo tuổi, có thể tính 1 cách đơn giản theo công thức: tuổi + 5 = số g chất xơ cần ăn. Ví dụ trẻ 8 tuổi cần 8 + 5 = 13g chất xơ/ngày.

Lưu ý: Nếu thêm quá nhiều chất xơ và quá nhanh sẽ gặp một số biến chứng như táo bón, tiêu chảy, đầy sôi bụng. Những biểu hiện này không trầm trọng và sẽ qua đi trong thời gian ngắn. Nên uống nhiều nước.
Nguồn: Sức khoẻ & Đời sống